Cảm nhận về khổ thơ thứ 2 bài thơ Việt Bắc

Cảm nhận về khổ thơ thứ 2 bài thơ Việt Bắc

Bài làm

Giữa dòng chảy mãnh liệt của văn học cách mạng muốn làm tròn sứ mệnh phục vụ thời đại, tiếng thơ “ Việt Bắc” của Tố Hữu không bị mờ lấp trong dòng cảm hứng quen thuộc đó. Văn học trước hết là cuộc đời sau mới là hiện thực. Đọc bài thơ người đọc vẫn không khỏi xúc động trước cảnh tiễn đưa bâng khuâng trong nỗi lưu luyến nhớ nhung của người kẻ ở.

  • “Tiếng ai tha thiết bên cồn
  • Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
  • Áo chàm đưa buổi phân ly
  • Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Tháng 7 – 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược đã kết thúc thắng lợi. Hòa bình được lặp lại. Tháng 10 – 1954, Hà Nội được giải phóng, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khi Việt Bắc về lại thủ đô. Lịch sử dân tộc sang một trang mới. Ở thời khắc lịch sử ấy, người ta có nhu cầu được nhìn lại đoạn đường vừa qua đồng thời mong ước hướng tới tương lai. “Việt Bắc” ra đời để đáp ứng những nhu cầu ấy. Bài thơ là bản trường ca- tình ca về quê hương, đất nước, về con người và những ân tình, nghĩa tình cách mạng, yêu thương.

Đại từ phiếm chỉ “ai” mang lên như một cung bậc mơ hồ của cảm xúc. “Ai” ở đây có thể là người ra đi, cũng có thể là người ở lại. Mười lăm năm mặn nồng cùng nhau vào sinh ra tử, cùng vượt qua những gian nan của cuộc chiến khốc liệt cho nên tình cảm quân với dân không đơn thuần là tình đồng đội cùng nhau kháng chiến, đó còn là tình ruột thịt, tình anh em trong gia đình. Bốn câu thơ tuyệt bút hay không phải ở những cấu trúc độc đáo hay tư tưởng lớn lao mà bởi cái cảm giác “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” mà ai cũng có. “Bâng khuâng” như một nỗi hụt hẫng, một niềm vui vừa rời bỏ; “bồn chốn” là trạng thái nôn nao, không yên ở trong lòng như muốn níu kéo bước chân người ở lại. Đáp lại lời dặn dò của người ở lại, người ra đi dành trọn tấm lòng mình để ghi nhớ giờ phút ít ỏi này, để cảm kích trước tấm lòng mà những người dân Tây Bắc đã ưu ái dành cho họ:

  • “Áo chàm đưa buổi phân li
  • Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Xem thêm:  Bình giảng hai khổ thơ cuối của bài thơ Tiếng Hát Con Tàu của Chế Lan Viên

Hình ảnh “áo chàm” vừa quen thuộc, thân thương của đồng bào Nam Bộ lại rất bền, khôn phai khó nhạt. Lấy sắc áo để nói lòng người ở lại, từ cảm nhận của người ra đi. Giữa kẻ ở người đi đã tồn tại một sợi dây vô hình, sự thấu hiểu đến lúc ấy “biết nói gì hôm nay” – không phải không biết nói gì mà không cần phải nói, không bao giờ nói hết được bằng lời. Để rồi tất cả tình cảm được dồn vào cử chỉ: “cầm tay”. Một cái cầm tay cũng có thể bày tỏ được khúc ngân dài của nỗi nhớ. Giờ phút xúc động ấy, không ai có thể thốt thành câu, họ không biết nói gì hay quá xúc động mà không thể bật ra lời nói? Khoảng lặng ngôn từ ấy khiến người đọc chợt lặng thinh theo dòng tâm tư nhân vật, để xúc động trước tình quân dân cá nước của thời đại Hồ Chí Minh.

Chiến tranh đã qua đi gần nửa thế kỉ, nhưng những khúc ca của một thời hoa đỏ luôn thắp lửa trong trái tim người đọc bao thế hệ. Bởi lẽ văn chương chân chính sẽ trường tồn bất diệt dẫu thời gian có nghiệt ngã tới mức nào. “Việt Bắc” là đỉnh cao thơ Tố Hữu và sẽ mãi là một đóa hoa đỏ tươi trong vườn thơ cách mạng Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm

Xem thêm:  Em hãy trình bày suy nghĩ của mình về việc cho và nhận thông qua câu chuyện cười “Cứu người chết đuối”