Phân tích cảm nhận về tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Phân tích cảm nhận về tính dân tộc trong bài Việt Bắc

Bài làm

Nhận xét về thơ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi đã từng nói:“Từ cuộc sống hiện đại, thơ anh ngày càng bắt nguồn trở lại vào hồn thơ cổ của dân tộc”. Quả thật, đọc thơ Tố Hữu, ta cảm nhận được dân tộc đậm đà, thấy phảng phất trong “hồn thơ” của một thời quá khứ. Việt Bắc là một trong số rất nhiều bài thơ mang nét “cổ điển” như thế.

Vào tháng 7 năm 1957 hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết, tháng 10 năm 1954 Trung ương Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc trở về Hà Nội, những người cán bộ kháng chiến từ miền ngược trở về miền xuôi, nhân sự kiện đó Tố Hữu đã sáng tác lên bài thơ này. Có lẽ đó chính là lý do khiến bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ Việt Bắc nói riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Tính dân tộc của tác phẩm không chỉ được thể hiện ở thể thơ lục bát quen thuộc, lối đối đáp “ta”, “mình”, trong ca dao, dân ca mà còn được thể hiện ở những hình ảnh giản dị tình nghĩa thủy chung gắn bó.

  • “Mình về mình có nhớ ta
  • Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng…
  • Mình về mình có nhớ không
  • Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”

Bốn câu thơ đầu tiên là lời nhắn nhủ của người ở lại – đồng bào Việt Bắc thân yêu. Cứ mỗi cặp lục bát, câu 6 là lời ướm hỏi thiết tha, câu 8 lại là lời gợi nhắc kết hợp với điệp khúc “Mình về mình có nhớ” lặp lại hai lần. 4 câu thơ vừa là nỗi băn khoăn, vừa là lời nhắn nhủ từ tận đáy lòng người ở lại. Mình và ta tưởng như tách biệt, mà lại như hoà vào làm một, mình và ta dường như không chỉ đơn thuần là người ở lại và người ra đi mà còn là cả Cách mạng ân tình một thời cùng nhau gắn bó. Quãng thời gian “mười lăm năm” được gợi nhắc là cả một quãng thời gian dài, nén vào trong câu chữ là cả một chặng đường lịch sử đầy gian khổ, khó khăn và cũng nén cả vào đó biết bao kỉ niệm. Bởi vậy, mười lăm năm ấy không chỉ là quãng thời gian vật lí mà còn chứa đựng trong đó cả một chặng đường dài từ lúc cách mạng còn non trẻ tới ngày thành công. Bốn chữ “thiết tha mặn nồng” như gói trọn độ sâu, độ nồng của cảm xúc, tình cảm chính trị bỗng được thể hiện thật ngọt ngào. Cùng với thời gian, không gian rộng lớn của căn cứ địa Việt Bắc cũng hiện lên qua hình ảnh “cây, núi, sông, nguồn”. Câu thơ gợi nhắc đến câu tục ngữ quen thuộc “uống nước nhớ nguồn” của ông cha ta khi xưa, bởi vậy câu thơ như lời nhắn nhủ người trở lại miền xuôi hãy luôn nhớ tới những tháng năm gắn bó, ấy là lối sống thủy chung, ân tình.

  • ” Tiếng ai tha thiết bên cồn
  • Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
  • Áo chàm đưa buổi phân ly
  • Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.”

Đó là buổi chia tay đầy bịn rịn, quyến luyến giữa người dân Việt Bắc và cán bộ miền xuôi, sự nuối tiếc bao trùm toàn bộ khổ thơ. Một loạt các từ láy diễn tả cảm xúc được sử dụng làm cho những cảm xúc khác nhau cứ như đan quyện, hoà vào nhau, làm xốn xang, thổn thức lòng người ra đi. Hai chữ “tha thiết” như lời đồng vọng lại hai tiếng “thiết tha” của người ở lại. Dường như nghe thấy tiếng thiết tha ấy cũng là nghe thấy chính lòng mình, chính tâm hồn mình. Cảm xúc được gọi lên, thành nỗi “bâng khuâng”, cảm giác như, nỗi buồn cứ lan rộng ra, làm lồng ngực nao nào khó tả. Ấy là cái cảm giác có biết bao điều muốn nói, muốn tâm sự, ấy mà lại chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Ấy là cái cảm giác như đang trôi trên dòng sông của kí ức, của kỉ niệm trước giờ phút chia xa. Nỗi bâng khuâng trong lòng khiến cho người ra đi “bồn chồn bước đi”. Nỗi lo lắng, sốt sắng không nguôi như lan ra. Có phải hay không, ta còn có thể cảm nhận được đâu đây một ánh mắt kiếm tìm một ánh mắt, một bước chân ngập ngừng, chốc chốc lại ngoại lại, đợi chờ, luyến lưu, nặng nề không nỡ cất bước tiếp. Buổi chia ly được nhà thơ tái hiện bằng một sắc áo chàm. “Áo chàm” là một hình ảnh hoán dụ độc đáo, vừa là hình ảnh của con người Việt Bắc giản dị, chân chất, màu chàm lại là biểu tượng của sự gắn bó, khó phai. Đó là một tình cảm cao đẹp của dân tộc Việt Nam.

Xem thêm:  Em hãy bình luận về vẻ đẹp của khổ thơ cuối trong bài Đò Lèn

Tính dân tộc trong tác phẩm, còn được hiện lên qua những hoài niệm về thiên nhiên và con người. Trong tác phẩm thiên nhiên hiện lên ở những thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, có nắng, có mưa, có sương mù… Ở đó có “trăng lên đâu núi, nắng chiều lưng nương”, tất cả hiện lên như một thước phim quay chậm thật thơ mộng về thiên nhiên Việt Bắc. Chắc hẳn đọc đoạn thơ nhiều người sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của quê hương, đất nước, con người. Trong hoài niệm của Tố Hữu, là những con người lam lũ, vất vả với những công việc thầm lặng, họ hiện lên với lòng căm thù giặc sâu sắc, “khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” cùng với sự thủy chung đậm đà lòng son sắc với tinh thần lạc quan, “gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”.

Hình ảnh của con người còn trở nên đẹp hơn bao giờ hết khi xuất hiện trong sự hòa hợp với thiên nhiên qua bức tranh thiên nhiên bốn mùa.

  • Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
  • Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
  • Ngày xuân mơ nở trắng rừng
  • Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
  • Ve kêu rừng phách đổ vàng
  • Nhớ cô em gái hái măng một mình
  • Rừng thu trăng rọi hòa bình,
  • Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Đã có ý kiến cho rằng đây là đoạn thơ mang đậm tính dân tộc nhất trong tác phẩm, có lẽ đúng bởi đoạn thơ có nhiều hình ảnh đẹp về thiên nhiên và con người với những công việc thầm lặng. Để mở đầu cho bức tranh ấy nhà thơ đã sử dụng câu hỏi tu từ. Bức tranh mùa đông hiện lên với những sắc màu tươi và ấm. Trong thơ ca xưa, mùa đông thường được khắc hoạ trong không khi u ám, lạnh lẽo và khắc nghiệt, thế nhưng mùa đông trong Việt Bắc lại mang một vẻ đẹp khoẻ khoắn, căng tràn sức sống. Giữa màu xanh của núi rừng nổi bật lên sắc màu ấm nóng, tươi tắn của hoa chuối. Chẳng thấy những sương phủ, những cơn mưa tê tái, mùa đông nơi núi rừng Việt Bắc chào đón con người bằng ánh nắng ấm áp nơi đèo cao, hai chữ “nắng ánh” như phát sáng, làm cho câu thơ trở nên ấm áp và tươi sáng đến lạ lùng. Trên nền cảnh thiên nhiên ấy, con người hiện lên qua hình ảnh “dao gài thắt lưng”. Xưa, trong thơ ca, mùa đông thường gắn với con người mang tâm trạng u buồn, hay sự chia cắt xa xôi, nhưng đến với thơ Tố Hữu, con người lao động lại hiện lên trong tư thế hiên ngang, vưon tới đèo cao. Chỉ với vài nét chấm phá độc đáo, mà thiên nhiên mùa đông Việt Bắc mang nét đẹp khoẻ khoắn, tràn đầy sức sống. Nếu mùa đông Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp tươi mới, ấm áp, thì mùa xuân lại mang nét giản dị mà tinh tế vô cùng:

  • “Mùa xuân mơ nở trắng rừng
  • Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Xem thêm:  Phân tích những đứa con gia đình của Nguyễn Thi

Nhắc đến mùa xuân trong thi ca xưa, người ta thường nhắc đến hoa đào, hoa mai như một công thức ước lệ. Nhưng mùa xuân của núi rừng Việt Bắc lại gắn liền với hoa mơ trắng quen thuộc. Hình ảnh “mơ nở trắng rừng” vừa gợi lên nét đẹp giản dị, đặc trưng mà lại thanh khiết, thơ mộng vô cùng. Không chỉ thế, việc thay thế hoa mơ thay cho nhưng loài hoa đã đi vào ước lệ đã làm cho không gian như được thổi cái hồn của một thời đại mới, của cuộc sống hiện đại dù cần lao nhưng vẫn đẹp đẽ, nên thơ. Cùng với hoa mơ dịu dàng là đôi bàn tay khéo léo “chuốt từng sợi giang” làm xao xuyến tâm hồn. Hành động “chuốt” mới khéo, mới tinh biết nhường nào. Dù chỉ khắc hoạ hình ảnh đôi bàn tay nhưng ta có thể hình dung, đó như đôi tay của một người nghệ nhân giàu kinh nghiệm, mềm mại, tài hoa như đang gửi gắm bảo yêu thương vào từng sợi thương, sợi nhớ. Nhịp sống lao động đời thường, giản dị mà tinh tế biết bao. Tiếp nối bức hoạ mùa xuân là bức tranh mùa hạ.

  • “Ve kêu rừng phách đổ vàng
  • Nhớ cô em gái hái măng một mình”

Mùa hè luôn gắn liền với âm thanh của tiếng ve và sắc vàng tươi tắn. Nhà thơ dùng từ “đổ” khiến cho ta cảm nhận được sự tương quan rõ rệt của âm thanh và màu sắc. Tiếng ve tràn ngập không gian rừng núi, sắc vàng dường như cũng bao trùm lấy không gian, sắc vàng của lá, của ánh nắng rực rỡ như trải khắp tầm nhìn, như mật ngọt nhuộm vàng cả một bức tranh mùa hạ. Trong bức tranh mùa hạ, song hành với cảnh thiên nhiên cũng là hình ảnh con người. Hình ảnh cô em gái hiện lên, thân thương giản dị là đại diện cho con người lao động Việt Bắc cần cù chịu khó, hay cũng chính là bóng hình của những cô thôn nữ miền sơn cước đã đi về trong miền nhớ, miền thương của biết bao chàng lính trẻ. Mùa hạ đi qua, mùa thu đến với Việt Bắc với hình ảnh vầng trăng:

  • “Rừng thu trăng gọi hoà bình
  • Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Trăng là một hình ảnh đã đi về trong thơ ca từ cổ chí kim. Trong thơ ca kháng chiến, trăng cũng xuất hiện trong những đêm trường canh gác, là điểm tựa để tâm hồn của những người chiến sĩ được chắp cánh bay cao như ánh trăng treo đầu súng ta đã từng bắt gặp trong thơ Chính Hữu. Nhưng thay vì là trăng mang vẻ đẹp ước lệ hoàn mĩ như trong thơ ca xưa, trăng thu trong thơ Tố Hữu lại là biểu tượng mang vẻ đẹp của thời đại – vẻ đẹp của niềm mơ ước một cuộc sống hoà bình, ấm no. Đêm thu đầy thơ mộng ấy gắn liền với “tiếng hát ân tình thủy chung”. Từ “ai” là đại từ phiếm chỉ như gộp cả người đối và người đáp, tiếng hát ân tình ấy là tiếng lòng vang lên của cả hai, tình cảm gắn bó bền chặt cất lên như một bản hoà âm của tâm hồn.

Xem thêm:  Tấm lòng nhân đạo mà nhân văn Tô Hoài dành cho đồng bào miền núi qua tác phẩm Vợ Chồng A Phủ

Không chỉ vậy tính dân tộc trong tác phẩm còn được thể hiện khi tác giả viết về những cuộc hành quân hào hùng của dân tộc, cùng vai trò của Cách mạng và chiến khu Việt Bắc.

  • “Những đường Việt Bắc của ta
  • Đêm đêm rầm rập như là đất rung
  • Quân đi điệp điệp, trùng trùng,
  • Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan
  • Dân công đỏ đuốc từng đoàn
  • Bước chân nát đá muốn tàn lửa bay.

Với các từ láy “đêm đêm”, “rầm rập”, “Điệp điệp”, “trùng trùng” cùng biện pháp phóng đại bước chân “nát đã muốn tàn lửa bay”, “rầm rập như là đất rung” đã cho ta thấy được khí thế hào hùng anh dũng của con người Việt Bắc, dẫu biết rằng phía trước còn nhiều gian khổ nhưng họ vẫn sẵn sàng dấn thân, luôn bước về phía trước và họ tin rằng, “dẫu”, “nghìn đêm thăm thẳm, sương dày”, thì “đèn pha bật sáng như ngày mai lên”, đó chính là niềm tin về một tương lai tươi sáng nhất định đất nước sẽ giành thắng lợi. Đoạn thơ như một khúc tiến quân ca của dân tộc.

  • “Tin vui chiến thắng trăm miền
  • Hòa bình tây bắc Điện Biên vui về,
  • Vui từ Đồng Tháp, An Khê,
  • Vui lên Việt bắc, đèo de núi Hồng”

Có được chiến thắng ấy chính là nhờ sự đoàn kết của cả dân tộc và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và cụ Hồ. Viết về chiến thắng ấy Tố Hữu như để thầm ca gợi về khối đại đoàn kết dân tộc ta.

Tính dân tộc trong Việt Bắc còn được thể hiện trong hình thức nghệ thuật, với thể thơ lục bát, thuần Việt, sự đối đáp “mình, ta” quen thuộc trong ca dao. Sự đăng đối giữa các vế trong ca dao khiến cho bài thơ dễ nhớ, dễ thuộc đặt biệt với những hình ảnh giản dị, quen thuộc, từ ngữ trong sáng, tất cả đã khiến cho tính dân tộc trở nên đậm đà, nhuần nhuyễn trong từng từ, từng câu của tác phẩm.

Tính dân tộc chính là một trong những yếu tố làm nên sự đặc sắc và thành công của Việt Bắc nói riêng và các thi phẩm của Tố Hữu nói chung, góp phần làm phong phú thêm nền thơ ca dân tộc và giữ cho Tố Hữu một chỗ đứng vững chắc trên bầu trời văn học Việt Nam.